|
|
Kinh tế trí thức
Xem
phần: 1 2 3 4 5 6 7
Phần 7 - Giáo dục trong xã
hội trí thức
Khi sinh viên đến lúc đi
tìm việc, mọi người đều lưu ý về tình trạng kinh tế, đặc biệt là cuộc
khủng hoảng tài chính toàn cầu. Dường như là tình hình tài chính sẽ
không cải thiện ít nhất trong vài năm và tìm việc đối với sinh viên mới
tốt nghiệp sẽ là không thể được khi các công ti vẫn đang giảm việc và
đẩy nhiều người vào thất nghiệp. Phần lớn việc trong tài chính, ngân
hàng, thương mại và kinh doanh sẽ phải mất nhiều năm để phục hồi nhưng
có nhiều việc vẫn sẵn có trong "Công nghiệp tri thức" và tôi tin việc
chuẩn bị cho sinh viên về những nghề này nên là ưu tiên cao nhất bởi vì
không có hướng dẫn và chỉ đường đúng, chúng ta có thể mất cả thế hệ
những người có thể xây dựng nền kinh tế thịnh vượng. Chúng ta hãy nhìn
vào một số khu vực kinh tế chính trong mối quan hệ tới việc làm cho
giới trẻ:
Khu vực chính như nông nghiệp đã mất đi tầm
quan trọng của nó vì nó không cung cấp nhiều mấy theo khía cạnh việc
làm. Khu vực thứ hai đại diện cho sản xuất công nghiệp đang suy giảm
nhanh chóng bởi vì nhu cầu thấp do khủng hoảng tài chính và cạnh tranh
cao từ các nước đã công nghiệp hoá khác. Bằng cách nào đó, nhiều nước
đang phát triển vẫn đầu tư mạnh vào khu vực này mà không hiểu rõ ràng
về các xu hướng toàn cầu hoá. Điều có thể được xây dựng ra có lẽ đã
được xây dựng bởi các nước khác với giá rẻ hơn nhiều và chất lượng tốt
hơn như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, và Đài Loan đã tập trung vào
công nghiệp hoá nền kinh tế của họ trong nhiều năm. Thay vì đầu tư vào
khu vực công nghiệp, điều yêu cầu số tiền khá lớn để xây dựng nhà máy
và máy móc, có thể mất nhiều năm thực hiện rồi mới nhận ra rằng các đối
thủ cạnh tranh đã nắm giữ thị trường, chúng ta phải nhìn vào khu vực
thứ ba vốn là khu vực công nghệ cao và dịch vụ, một thị trường còn
tương đối mới và rộng mở. Để nhanh chóng bắt kịp với xu hướng toàn cầu
này, chúng ta phải tập trung nỗ lực và đầu tư của mình vào giáo dục và
đào tạo trong khu vực này.
Nền kinh tế phát triển đầy đủ
trong "Xã hội tri thức" có nhu cầu cực lớn về phạm vi rộng các kĩ năng
chuyên môn, điều yêu cầu huấn luyện chất lượng cao. Vì những kĩ năng
này còn phát triển và thay đổi thêm nữa với nhịp độ nhanh do việc thay
đổi công nghệ nhanh, việc huấn luyện phải linh hoạt để bắt kịp với nhu
cầu công nghiệp về cả đào tạo sinh viên đại học và huấn luyện lại cho
người lớn đang làm việc. Loại huấn luyện này yêu cầu tư duy mới, cách
tiếp cận mới, phương pháp dạy mới. Nếu thực hiện đúng, nó có
thể
giúp tránh tỉ lệ thanh niên thất nghiệp cao hơn và duy trì chất lượng
cao của lực lượng lao động làm tài sản cạnh tranh cho quốc gia. Bằng
chứng này có thể thấy được trong dữ liệu thống kê về thất nghiệp ở
nhiều nước đã phát triển như Mĩ và châu Âu. Các nước như Đức, Áo và
Thuỵ Sĩ đã áp dụng khái niệm này thành công và thất nghiệp của họ thấp
hơn nhiều so với Pháp, Bỉ, Italy và Tây Ban Nha.
Ở các
nước như Pháp, Bỉ, Hi Lạp và Italy, giáo dục chung đại diện cho một
kiểu duy nhất là giáo dục chính thức với thi cử và bằng cấp được chính
phủ ban hành và được các nhà tuyển dụng chấp nhận. Trong trường hợp
này, phần lớn sinh viên học đại học với mong đợi được lợi trong cơ hội
có việc làm. Khái niệm này tạo ra khá nhiều vấn đề cho hệ thống giáo
dục như: a) Cạnh tranh mạnh trong việc được vào đại học, b) Tỉ lệ bỏ
học cao với những người không thể học được, c) Thể chế giáo dục trở
thành độc quyền và không có khuyến khích thay đổi, d) Đào tạo chỉ dành
riêng về “tri thức hàn lâm”, được cộng đồng hàn lâm tạo ra thường loại
ra ngoài tri thức và kĩ năng mà công nghiệp cần. Do đó nhiều sinh viên
tốt nghiệp đại học không tìm được việc họ đã mong đợi và đối diện với
vấn đề thất nghiệp. Các nước có số lớn thanh niên thất nghiệp mà không
có viễn cảnh về tương lai thường có tỉ lệ tội ác rất cao và nhiều vấn
đề xã hội. Sinh viên bỏ học không có phương án thay thế để xây dựng
tương lai tốt hơn cũng có xu hướng tham gia vào thương mại bất hợp pháp
hay tham gia vào tội phạm. Chung cuộc thị trường lao động được đặc
trưng bởi thất nghiệp cao đối với nhiều sinh viên, trong khi công
nghiệp lại thiếu công nhân có kĩ năng để phát triển. Trong cạnh tranh
cao của toàn cầu hoá, có việc mất cơ hội cực kì lớn cả ở mức cá nhân và
mức quốc gia và không có lực lượng lao động có kĩ năng để xây dựng nền
kinh tế mới, một số nước sẽ bị tụt hậu với nghèo nàn lớn và tỉ lệ tội
phạm cao.
Vấn đề chính nảy sinh từ sự kiện này là nền giáo
dục chung thường chỉ hướng tới việc vào đại học của nhà nước, trong khi
đại đa số thanh niên lại không vươn tới được điều đó và cần việc đào
tạo khác như hướng nghiệp hay những kĩ năng thực hành nào đó để sống.
Nhiều nỗ lực cải cách từ bên trong hệ thống giáo dục ở Pháp, Italy, Hi
Lạp để vượt qua xu hướng hàn lâm, điều không phản ánh cấu trúc thực tại
của nền kinh tế, đã thất bại. Ngay cả ngày nay, truyền thống hàn lâm
vẫn còn tồn tại và từ chối chấp nhận thực tế của thời đại thay đổi.
Trong khi đó, Đức, Áo và các nước Scandinavia cũng có hệ thống hàn lâm
mạnh tương tự như Pháp, Italy và cũng có nhiều nỗ lực thất bại trong
quá khứ, đã học được bài học của họ. Vào đầu những năm 1980 khi công
nghiệp bày tỏ nhu cầu của mình, chính phủ bắt đầu kiểm điểm lại chức
năng giáo dục để tạo ra công nhân có kĩ năng cao cho công nghiệp. Họ đã
tạo ra hệ thống giáo dục dựa trên cộng tác giữa công nghiệp và đại học
tư và động viên đại học đưa ra những chương trình đào tạo tốt hơn. Nền
giáo dục mới này có tác dụng rất lớn tới toàn thể cấu trúc kinh tế của
nó và đã tiến hoá thành hệ thống giáo dục thiết kế tốt, có thể được
tích hợp lại vào trong hệ thống giáo dục chung.
Như đã
nhắc tới ở trên, không phải mọi người đều có thể được vào đại học và
thậm chí khi vào rồi, một số sẽ bỏ học. “Đào tạo hàn lâm” trong nhiều
trường nhà nước không phản ánh nhu cầu của công nghiệp hay đáp ứng cho
nền kinh tế. Do đó, hệ thống giáo dục mới yêu cầu công nghiệp đưa ra
định nghĩa rõ ràng về mô tả việc trong những lĩnh vực riêng. Đây là
tiền điều kiện cho việc tổ chức đào tạo có liên quan, cho việc tư vấn
việc làm và cách đo của chính phủ để cân đối giữa cầu và
cung. Ở
Đức, có đại thể 380 mô tả việc được nhóm lại trong 13 lĩnh vực. Do thay
đổi nhanh chóng qua toàn cầu hoá và canh tân công nghệ, những định
nghĩa việc này sẽ được xem xét lại cứ sau vài năm bởi các uỷ ban liên
hợp của chính phủ và công nghiệp. Mô tả việc mô tả các hoạt động chính
và năng lực cần thiết cho lĩnh vực đặc thù. Chúng là điểm bắt đầu cho
đào tạo qua hệ thống giáo dục mới. Chẳng hạn, trong lĩnh vực
phần
mềm, mô tả việc “Người lập trình mức đưa vào” yêu cầu tri thức nào đó
về ngôn ngữ lập trình, hệ thống tính toán, qui trình phần mềm, và kĩ
thuật kiểm thử, trong đó sinh viên không phải theo học đại học bốn năm
mà chỉ cần cao đẳng hai năm hay trường hướng nghiệp. Để thúc đẩy việc
sử dụng thanh niên, hệ thống giáo dục mới áp dụng phương pháp “Học qua
Hành” bằng việc tổ hợp hai môi trường học tập: trường học và công
nghiệp. Về căn bản, sinh viên tham dự trường trong 2 ngày một tuần và
dành 3 ngày khác trong tuần để làm việc áp dụng điều đã học vào công ti
phần mềm như một sinh viên “Co-op” (cùng làm). Họ nhận lương trong thời
kì “Co-op” và sau khi hoàn thành việc huấn luyện sinh viên thường được
nhận vào làm ở công ti đó. Kiểu huấn luyện này có tác dụng tốt cho một
số loại việc nào đó nơi sinh viên học các tri thức kĩ thuật cơ bản,
tính toán toán học hay lập trình. Vì chương trình huấn luyện
dựa
trên mô tả việc, được công nghiệp mô tả, sinh viên không để thời gian
học tri thức hàn lâm mà tập trung vào điều họ phải học trong môi trường
làm việc thực. Tôi đã tới thăm vài công ti ở Đức và ở các nước
Scandinavian và thấy rằng hệ thống giáo dục này đã có tác dụng rất tốt.
Trong công nghiệp, có những trang thiết bị có liên quan, có các qui
trình tính toán và qui trình công việc được xác định rõ cho sinh viên
dùng và có năng suất. Trong thời kì huấn luyện ba năm (về trung bình,
tuỳ theo lĩnh vực), sinh viên hay người tham gia huấn luyện “Co-Op”
được dần dần tích hợp vào trong qui trình công việc. Với đóng góp của
họ, họ nhận được thù lao hàng tháng quãng một nửa của nhân viên làm
việc toàn thời (xấp xỉ $ 700) và công ti cũng nhận được khuyến khích
thuế của chính phủ để thuê những sinh viên này. Tôi cũng thấy rằng các
công ti lớn đều có nhiều lĩnh vực huấn luyện và có thể thuê hàng nghìn
sinh viên “Co-Op” nơi các công ti nhỏ hơn có thể không ở vị trí đưa ra
được miền đầy đủ các cơ hội huấn luyện trong lĩnh vực tương ứng. Tất cả
các sinh viên Co-Op đều nhận được việc huấn luyện thực hành tại công ti
qua “Thầy huấn luyện”, các giáo viên đặc biệt có trải qua giáo dục đặc
biệt thêm trước khi được mang danh hiệu để huấn luyện thanh niên. Chất
lượng của họ và toàn thể các qui trình được điều phối bởi Phòng Thương
mại và Công nghiệp hay các đại diện công nghiệp có trách nhiệm khác. Ở
các công ti nhỏ hơn, người chủ và người quản lí rất thường là thầy huấn
luyện cho họ. Việc huấn luyện kết thúc bằng hai kì thi, một kì do
trường 2 năm tổ chức, kì kia do công nghiệp tổ chức. Việc qua được các
kì thi này sẽ cho sinh viên Chứng chỉ được tất cả các nhà tuyển dụng
tiềm năng thừa nhận. Vì chương trình giáo dục này đã được thiết lập từ
đầu những năm 1990, số thanh niên có việc đã tăng lên rất nhiều. Phần
lớn các công ti đều hài lòng có công nhân có kĩ năng cho ngành công
nghiệp của họ bởi vì họ dựa trên sự kiện là kinh nghiệm việc đã có rồi,
và rằng họ đã biết các sinh viên này đủ để thuê họ dựa trên hiệu năng
của họ. Tất nhiên, công nhân trẻ có kĩ năng được tự do tìm việc trong
các công ti khác nếu người đó muốn vậy.
Một chương trình
tương tự cũng được thiết lập với sinh viên đại học dựa trên mô tả việc.
Phần lớn các đại học tư đều đã thích nghi các giáo trình đào tạo rất
linh hoạt dựa trên nhu cầu công nghiệp. Trong lĩnh vực phần mềm, mô tả
việc “Người phân tích phần mềm mức đưa vào” yêu cầu tri thức nào đó về
vòng đời phần mềm, phương pháp, và công cụ cũng như tri thức kĩ thuật
về phân tích, kiến trúc, thiết kế, xây dựng và trắc nghiệm hệ thống
phần mềm. Trong trường hợp này, sinh viên về căn bản đăng kí học toàn
thời trong đại học trong 9 tháng và dành 3 tháng làm việc như “người
tập sự” trong công ti phần mềm. Họ nhận lương trong thời kì tập sự và
thường trong năm cuối, trước khi tốt nghiệp họ phải làm việc ở dự án
“Capstone” được công ti phần mềm chỉ đạo để trắc nghiệm kĩ năng và tri
thức của họ. Bằng cộng tác sớm với công nghiệp phần mềm, sinh viên biết
điều gì là cần và tập trung việc học hành của họ vào những miền nào đó.
Sinh viên trong đại học có nhiều chọn lựa hướng dẫn nghề nghiệp của họ
hơn là chương trình 2 năm. Họ học một số các môn học bắt buộc nhưng có
nhiều chọn lựa về các môn tuỳ chọn, tuỳ theo điều họ muốn tập trung
vào.
Ngày nay, vẫn có nhiều tranh cãi giữa trường tư và
trường nhà nước về chủ định, mục đích và sứ mệnh của hệ thống giáo dục
mới, nơi mà người giáo dục phải giáo dục “tri thức thuần tuý về con
người” hay “tri thức công nghiệp riêng cho công nhân” nhưng sự kiện là
với hệ thống giáo dục mới, số thanh niên có việc làm quãng 30% tốt hơn
hệ thống giáo dục chung. Sẽ phải mất vài năm để thu thập đủ dữ liệu cho
một nghiên cứu tốt cho kết quả kết luận nhưng chúng ta cũng có thể dùng
blog ngắn này như điểm bắt đầu cho thảo luận của chúng ta về “xã hội
tri thức.” Tất nhiên, chúng ta không thể giải quyết được mọi vấn đề và
có nhiều vấn đề, nhưng tôi tin sự cộng tác giữa công nghiệp và thể chế
giáo dục là bước đầu tiên để cải tiến hệ thống giáo dục hiện thời. Có
lực lượng lao động có kĩ năng cao để xây dựng nền kinh tế của mình sẽ
cho phép chúng ta tham gia tích cực vào xã hội tri thức thay vì là
người quan sát từ bên ngoài.
Theo
diễn đàn ICT-vn
|

|