|
|
Kinh tế trí thức
Xem
phần: 1 2 3 4 5 6 7
Phần 6 - Công nhân trí thức
Trong thời đại công
nghiệp, sản phẩm được chế tạo là nhân tố kinh tế then chốt, sản phẩm
xuất khẩu càng nhiều, nền kinh tế càng tốt. Tuy nhiên trong thời đại
thông tin, tri thức và kĩ năng có giá trị kinh tế cao hơn do nhu cầu
cao về những kĩ năng này để xây dựng xã hội tri thức. Người được giáo
dục tốt được cần tới để tạo ra sự giầu có mới, vì nó không còn là "sản
phẩm được chế tạo" mà là "sản phẩm trí tuệ.” Ngày nay công nhân có kĩ
năng có nhiều cơ hội hơn công nhân lao động không kĩ năng và họ nhận
được chính sách nhập cư thuận lợi bởi vì hầu hết các nước đã phát triển
đều có nhu cầu lớn về kĩ năng của họ. Giá trị kinh tế của công nghệ
thông tin, khoa học, và y học có thể đóng góp cho các việc sử dụng đa
dạng: Nguồn lực năng suất cho ngành công nghệ cao như kĩ sư phần mềm,
nguồn lực cho công nghiệp tài chính như nhà doanh nghiệp, nguồn lực cho
công nghiệp tri thức như nhà khoa học, hay nguồn lực cho ngành công
nghiệp dịch vụ như y tá hay bác sĩ. Việc di chuyển của những
kĩ
năng này có tác động quan trọng lên các nước nguồn, các nước nhận và
nền kinh tế toàn cầu nói chung như một tổng thể. Ở các nước nguồn, việc
mất những kĩ năng này làm giảm cơ hội cho họ để phát triển về mặt kinh
tế. Tương phản lại, các nước nhận sẽ được lợi lớn từ luồng vào của
những kĩ năng này để làm mạnh cho nền kinh tế của họ và làm giảm việc
thiếu hụt người kĩ năng cao.
Dựa trên vài nghiên cứu của
chính phủ, các nước đã phát triển như Mĩ, châu Âu và Nhật Bản cần nhiều
người về công nghệ thông tin, viễn thông và khoa học máy tính. Đây là
những người có bằng cấp đại học về toán, kĩ nghệ phần cứng, và kĩ nghệ
phần mềm. Họ có thể là người phát triển phần mềm và phần cứng trong
công nghiệp thông tin hay có tham gia vào ngành công nghiệp công nghệ
cao. Thuật ngữ chung là “công nhân tri thức” và họ thường nhận được
visa thuận lợi để ở lại và làm việc trong các nước đã phát triển cao
này. Ngày nay nhà xuất khẩu chính các "công nhân tri thức" này là Ấn
Độ, nước có có số các nhà khoa học và kĩ sư lớn nhất đang làm việc tại
Mĩ. Gần 85% sinh viên Ấn Độ học tập trong các đại học của Mĩ đã không
trở về Ấn Độ và phần lớn trong số họ được phép làm việc thuận lợi và
cuối cùng lấy qui chế cư dân vĩnh viễn ở tại Mĩ. Nhiều người
trong những công nhân có kĩ năng này tới từ các nước được gọi là "hiện
tượng chảy não” và ngày nay các nước chịu tổn thất nhất là Ấn Độ, Trung
Quốc, Nga, Ukraine, Belarus, Hungary, và Ba Lan.
Các nhà khoa
học và các giáo sư hàn lâm là phân khúc khác của “Công nhân tri thức.”
Phần lớn đều là những người có bằng cấp cao về khoa học tự nhiên như
vật lí, toán học và hoá học. Nếu họ có phẩm chất tốt với nhiều xuất bản
phẩm thì họ có thể dễ dàng tìm việc ở các nước đã phát triển. Nhiều nhà
khoa học rời khỏi nước mình bởi vì lương cao, tiện nghi làm việc tốt
hơn; phòng thí nghiệm tốt hơn và khả năng tăng thêm tri thức của họ và
tương tác với các nhà khoa học khác. Dựa trên dữ liệu được thu thập từ
bẩy nghìn nhà khoa học di cư sang Mĩ trong năm năm qua, phần lớn đều
trích dẫn các lí do về lương thấp ở nước mình, việc thừa nhận nghề
nghiệp bị giới hạn, thịnh vượng nghề nghiệp nghèo nàn và thiếu tiện
nghi nghiên cứu ở nước mình. Con đường chính qua đó nhiều nhà khoa học
tới các nước đã phát triển là họ tới như sinh viên tốt nghiệp để nhận
bằng Thạc sĩ, bằng Tiến sĩ hay để theo đuổi học bổng sau tiến sĩ. Rất
ít người trở về nhà sau khi tốt nghiệp trong khi đại đa số ở lại làm
việc trong các đại học, trung tâm nghiên cứu, và công nghiệp của nước
nhận.
Một bộ phận quan trọng khác của việc di cư thường không
được nhắc tới trên báo chí là các nhà doanh nghiệp. Đây là những người
không nhất thiết có nhiều giáo dục chính thức nhưng họ có nhiều tiền để
đầu tư và tìm những cơ hội tốt hơn ở đâu đó khác ngoài nước họ. Bởi vì
họ đem theo nhiều tiền cho nên việc khởi đầu của họ có thể có ảnh hướng
lớn tới nền kinh tế của nước của họ. Theo cảnh quan lịch sử, những
người thành công như Mellon, Vanderbilt, Rockefeller, và Rothschild tất
cả đều là các doanh nhân di cư từ châu Âu sang Mĩ vào cuối thế kỉ 19.
Họ tất cả đều mang theo mình số vốn lớn để đầu tư và giúp làm mạnh nền
kinh tế Mĩ lúc đó vẫn còn chưa được phát triển. Tất nhiên, không phải
mọi người đều giầu như họ và phần lớn các doanh nhân đều là những người
làm doanh nghiệp nhỏ, người vận hành tiệm ăn, khách sạn, cung cấp dịch
vụ như công việc gia đình. Chẳng hạn, con số các tiệm ăn Trung Quốc
ngày nay ở Mĩ gấp ba lần tổ hợp của tất cả các tiệm ăn nhanh của Mĩ
(McDonald, Burger-King, và Taco Bell v.v.). Doanh nghiệp về thảm và đồ
đạc bị thống trị bởi người Thổ nhĩ kì, Pakistani, và Ma rốc. Những
doanh nghiệp di cư này không yêu cầu tài chính nhiều nhưng họ có đóng
góp cho nền kinh tế của nước nhận. Thỉnh thoảng, nếu điều kiện thuận
lợi một số có trở về nước nhà đem theo vốn và mối liên hệ đã phát triển
ở nước ngoài.
Việc di chuyển của công nhân tri thứ trên thế giới
nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục trong việc phát triển các kĩ năng
này để đáp ứng nhu cầu toàn cầu cao. Sinh viên có tài thường chọn các
trường danh tiếng để cho nghề nghiệp được trả lương cao hơn bởi vì việc
thu hồi vốn đầu tư cao nhất vào tri thức dồn vào những cá nhân có kĩ
năng cao, người đã tốt nghiệp từ các đại học nổi danh. Ở Mĩ, có sự khác
biệt lớn về lương của sinh viên mới tốt nghiệp từ các đại học hàng đầu
như Harvard, Stanford, hay Massachusetts Institute of Technology (MIT)
khi so sánh với hầu hết các đại học của nhà nước. Cùng điều này cũng có
thể thấy ở Anh, Pháp, Đức và Nhật nơi các đại học hàng đầu hấp dẫn
những sinh viên giỏi nhất và cho tốt nghiệp những công nhân có tài năng
nhất cho công nghiệp. Mặc dầu kĩ năng rất phụ thuộc vào cá nhân và động
cơ của họ nhưng ngày nay phần lớn các công nghiệp bao giờ cũng ưa thích
các trường tư hơn trường của nhà nước bởi vì giáo trình của họ khớp
nhiều với “Thực hành trong công nghiệp” hơn là “Giáo trình hàn lâm” tại
đại học nhà nước. Khái niệm mấu chốt về cách tiếp cận “giáo dục như đầu
tư” để đáp ứng nhu cầu thị trường đã từng bị cộng đồng hàn lâm phê phán
khi họ nói rằng giáo dục phải hội tụ vào “Tri thức thuần khiết” để phát
triển “Con người” chứ không phải là “Công nhân tri thức” cho công
nghiệp. Các trường tư tuyên bố rằng giáo dục chỉ đóng vài trò
quan trọng trong “việc cung cấp thông tin cho sinh viên, người tự giáo
dục bản thân mình về khả năng riêng của họ.” Vậy giáo dục giúp cho sinh
viên thu thập thông tin về năng lực của họ và tiềm năng trong thị
trường sau khi hoàn thành nghiên cứu của họ. Chính chọn lựa cá nhân là
đi tới nơi sinh viên thấy khớp để đáp ứng mục đích nghề nghiệp của họ.
Tranh cãi này vẫn còn diễn ra và có lẽ sẽ không chấm dứt trong tương
lai gần nhưng ngày nay việc di chuyển công nhân tri thức toàn cầu đã
làm thay đổi sự cân bằng giữa các nước đã phát triển và các nước đang
phát triển một cách có ý nghĩa. Khái niệm then chốt là mọi người sẽ đi
tới nơi có cơ hội và với toàn cầu hoá, sự lưu động của họ còn dễ dàng
hơn nhiều nếu họ có tri thức và kĩ năng.
|

|