|
|
Kinh tế trí thức
Xem
phần: 1 2 3 4 5 6 7
Phần 4 - Nền kinh tế trí thức
4
Là một
giáo sư lịch sử, bạn tôi rất tò mò về điều đã xảy ra ở Ấn Độ cho nên
ông ấy
hỏi: “Theo quan điểm của ông thì Ấn Độ rất thành công trong việc xây
dựng xã
hội tri thức bằng việc bỏ qua pha công nghiệp nhưng tại sao họ đã làm
loại
quyết định đó?" Tôi nói với ông ấy: “Câu trả lời là đơn giản. Để đi vào
pha công nghiệp ông phải đầu tư vào kết cấu nền như có điện tốt, đường
xá tốt
và hệ thống vận tải tốt để chuyển vật tư tới nhà chế tạo và chuyển sản
phẩm từ
nhà chế tạo ra thị trường. Ông phải xây dựng cảng biển và sân bay và
đầu tư vào
máy móc và trang thiết bị cho các ngành công nghiệp. Tất cả những điều
này đều
đòi hỏi đầu tư rất lớn nhưng vào năm 1991, nền kinh tế Ấn Độ tồi tệ thế
và
không thể đảm đương được điều đó cho nên chính phủ Ấn Độ quyết định đầu
tư vào
giáo dục, điều rẻ hơn nhiều so với kết cấu nền. Bằng việc tập trung vào
giáo
dục có chất lượng, chính phủ đầu tư vào tương lai và kết quả là bây giờ
Ấn Độ
có lực lượng lao động kĩ năng rất cao, điều giúp tạo ra xã hội tri thức
và sự
thịnh vượng kinh tế. Với tiền thu được từ xuất khẩu dịch vụ như khoán
ngoài, Ấn
Độ bắt đầu cải tiến kết cấu nền và sẵn sàng công nghiệp hoá đất nước.
Tôi tin
trong mười năm nữa, Ấn Độ sẽ có nhiều nhà máy được vận hành và quản lí
bởi
những người quản lí Ấn Độ có kĩ năng cao và cuối cùng sẽ trở thành một
quốc gia
công nghiệp rất mạnh".
Bạn tôi gật đầu: “Vậy thực tế Ấn Độ đã không bỏ pha này mà chỉ đảo
ngược lại
thứ tự.” Tôi đồng ý: “Vâng, nhưng họ đã làm điều đó một cách kì diệu và
đó là
quyết định đúng vào thời điểm đó và thậm chí là ngày nay. Nếu ông nhìn
vào việc
công nghiệp hoá của Trung Quốc thì ông sẽ thấy rằng kết quả không như
nhau.
Trung Quốc đi theo lí thuyết tiến hoá bằng việc cải tiến kết cấu nền
tới thiết
lập nền kinh tế công nghiệp. Trung Quốc có đường sá lớn, hệ thống vận
tải tốt với
nhiều cảng biển và sân bay, điện nước được thiết lập tốt cho các xưởng
máy.
Chính phủ Trung Quốc đã đầu tư số tiền rất lớn vào các dự án kết cấu
nền lớn và
với những kết cấu nền tại chỗ này, Trung Quốc đã thu hút nhiều đầu tư
nước
ngoài và cuối cùng qua hai mươi năm, trở thành quốc gia công nghiệp với
nền
kinh tế tăng trưởng nhanh nhất, bán sản phẩm trên khắp thế giới. Điều không may là Trung Quốc đã không tập
trung vào giáo dục cùng lúc cải cách kinh tế mà lại tập trung nhiều vào
kết cấu
nền cho nên khi mọi sự đã có tại chỗ, Trung Quốc đã không có tri thức
và kĩ
năng để vận hành chúng. Nếu ông nhìn cẩn thận, ông sẽ thấy
rằng hầu hết các
xưởng máy lớn ở Trung Quốc đều là sở hữu nước ngoài, trang thiết bị
được nhập
khẩu từ nước ngoài và phần lớn những người quản lí cấp cao nhất của các
nhà máy
đều là người nước ngoài. Không được thừa nhận là có công nhân kĩ năng
cao, các
nước đã phát triển chỉ coi Trung Quốc là nước có lao động chi phí thấp
cho các
nhà máy của họ. Ngày nay khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã xảy
ra, các
nước dừng nhập khẩu thì bỗng nhiên Trung Quốc ở vào tình trạng xấu: các
công ti
nước ngoài bắt đầu rút ra và đóng cửa nhà máy của họ đẩy hàng triệu
công nhân
thành mất việc. Điều gì sẽ xảy ra tiếp thì vẫn còn phải được xem đã
nhưng ông có
thể rút ra kết luận riêng của mình."
Bạn tôi trở nên yên lặng một chốc rồi hỏi: “Vậy ông nghĩ giáo dục là
chìa khoá
cho sự thịnh vượng kinh tế bởi vì nó cho quốc gia cả tri thức cần thiết
và kĩ
năng để tự đủ nhưng ông cũng nói tới việc học cả đời là khía cạnh quan
trọng
của xã hội tri thức, sao ông nghĩ mọi người phải học cả đời họ?” Tôi
bảo ông ấy
rằng tuần trước, một sinh viên cũng hỏi tôi cùng câu hỏi này - "Tôi đã
mất
hơn 18 năm trong trường học, bây giờ tôi có bằng cấp và đề nghị việc.
Tôi sẵn
sàng đi làm, làm ra tiền, mua xe, xây dựng gia đình, và tận hưởng cuộc
sống
nhưng rồi thầy bảo tôi rằng tôi cần tiếp tục học cả đời mình. Sao tôi
phải cần
học nữa?” Câu trả lời của tôi là: "Cái nhìn truyền thống về giáo dục
nói
rằng trường học là nơi học sinh tới để thu được tri thức, để nhận bằng
cấp và
dùng tri thức mà họ đã học trong trường để làm việc sống được thoải mái
cho
phần còn lại của cuộc đời họ. Tuy nhiên, cái nhìn đó đã hoàn toàn lỗi
thời dành
cho thời nào đó trước vì ngày nay với toàn cầu hoá, với cạnh tranh cao
giữa các
nước, không có điều kiểu như việc vĩnh viễn hay việc làm cả đời bởi vì
tri thức
thay đổi sau vài năm, nếu bạn không giữ cho tri thức của mình được cập
nhật,
bạn có thể bị loại ra khỏi thị trường việc.
Ngày nay, thay đổi công nghệ đang thách thức giáo dục truyền thống bởi
vì tiến
bộ kinh tế chủ yếu phụ thuộc vào tri thức và kĩ năng của các công dân.
Để xoá
bỏ nghèo nàn quốc gia phải phát triển các chiến lược giáo dục để giải
quyết với
xu hướng toàn cầu hoá. Họ cần thiết lập các chương trình cải tiến hệ
thống giáo
dục. Tất nhiên, có nhiều lí thuyết và nhiều câu trả lời từ các chuyên
gia giáo
dục nhưng tôi tin rằng việc xây dựng xã hội tri thức không thể nào tách
rời
khỏi việc học cả đời, cũng như nền kinh tế tri thức không thể được phát
triển
mà không có việc học liên tục. Hệ thống giáo dục truyền thống cứng nhắc
dựa
trên tập các tri thức hàn lâm phải được cải tổ để cung cấp cho mọi
người cơ hội
học cả đời, điều gắn hệ thống giáo dục với nhu cầu của xã hội và nền
kinh tế.
Để làm điều đó chúng ta phải kiểm điểm lại mục đích của giáo dục, nội
dung của
nó, phương pháp của nó về việc truyền tri thức, cũng như sứ mệnh của
trường học
và vai trò của người thầy.
Chúng ta đang sống trong một thế giới mà tri thức tiến hoá nhanh chóng
cho nên
hệ thống giáo dục phải được tổ chức, cấu trúc và chuyển giao cho mọi
công dân
để cho họ có thể áp dụng được nó một cách thông minh. Tôi dùng từ “Công
dân”
chứ không phải là “sinh viên” bởi vì hệ thống giáo dục mới không nên
chỉ thiết
kế dành cho những người ở tuổi đến trường (5 tới 25) mà còn cho cả
người lớn,
những người muốn học. Trường học không nên là chỗ thầy giáo giảng và
học sinh
nghe một cách thụ động mà phải là nơi việc học xảy ra, nơi thầy giáo
tạo điều
kiện thuận lợi cho việc học bằng cách hướng dẫn học sinh với những kĩ
năng cần
thiết để cho họ có thể áp dụng vào nghề nghiệp của mình. Để thúc đẩy
loại giáo
dục này, trường học phải thiết lập mối quan hệ với công nghiệp bằng
việc làm
cho các chương trình giảng dạy của mình gióng thẳng với nhu cầu của
công nghiệp
và chấp nhận hình thức linh hoạt của việc học. Sự phát triển kinh tế
hiện thời
yêu cầu giao tiếp của giáo dục, kinh tế và thị trường lao động. Giáo
dục phải
sẵn sàng phản ứng với việc thay đổi nhu cầu của nền kinh tế, cũng như
nền kinh
tế hiện đại phải mở cho việc học và canh tân khoa học. Để đảm bảo việc
học cả
đời, chính phủ cần tạo ra hệ thống giáo dục mới bao quát hệ thống giáo
dục
chính thức, việc học phi chính thức và việc học không hình thức để phát
triển
các tri thức và kĩ năng khác trong sự đa dạng của trường học, công
nghiệp và
cộng đồng. Cuộc sống hiện đại yêu cầu cách tiếp cận mới tới giáo dục
cho công
dân. Trong xã hội đang thay đổi nhanh chóng, giáo dục là quá trình tiếp
diễn và
nên liên tục được cập nhật và nâng cấp. Người làm việc nên được cho khả
năng
chọn lựa các kế hoạch học tập khác nhau để cải tiến tri thức và kĩ năng
của họ.
Để tạo khả năng cho người làm việc cải tiến tri thức của họ và thích
nghi chúng
với thị trường đang thay đổi, nhiều điều kiện phải được đáp ứng. Thứ
nhất, giáo
dục liên tục yêu cầu ngân quĩ, do đó, chính phủ phải có chính sách và
chỉ đạo
để động viên giáo dục liên tục và đầu tư vào giáo dục người lớn. Thứ
hai, quan
hệ đối tác chặt chẽ hơn giữa hệ thống giáo dục và công nghiệp sẽ giúp
tài trợ
các nguồn tài nguyên cần cho việc cải tiến tri thức và kĩ năng của công
nhân. Để cung cấp cho mọi người các cơ hội
học cả
đời, chính phủ sẽ cần cung cấp thêm việc truy nhập vào tri thức giáo
dục bao la
với hướng dẫn đúng và dịch vụ tư vấn.
|

|