|
|
Kinh tế trí thức
Xem
phần: 1 2 3 4 5 6 7
Phần 3 - Nền kinh tế trí thức
3
Ngày nay xã hội tri
thức không còn là tầm nhìn về
tương lai mà là thực tại. Phát triển kinh tế được xác định phần lớn bởi
tri thức, do đó giáo dục là điều kiện tiên quyết bản chất cho cải tiến
kinh tế và giảm nghèo. Vì cách mạng thông tin đã bắt đầu từ năm mươi
năm trước, tăng trưởng và thịnh vượng của mọi quốc gia đã phát triển
phần lớn được xác định bởi sản xuất tri thức và canh tân. Ta hãy nhìn
vào ngành công nghiệp phần mềm, ba mươi năm trước Microsoft là một công
ti chẳng ai biết tới, được sáng lập bởi vài sinh viên Đại học Harvard,
nhưng ngày nay nó là công ti phần mềm lớn nhất với số vốn hàng trăm tỉ
đô la và làm cho người sáng lập ra nó, Bill Gates là người giầu nhất
thế giới. Mười năm trước, không ai nghe nói gì tới Google, nhưng công
ti này, cũng được sáng lập bởi hai sinh viên Đại học Stanford, đã trở
thành mối đe doạ lớn nhất cho Microsoft và có thể là Google sẽ thay thế
Microsoft để là công ti trên chóp trong công nghiệp phần mềm. Điều gì
Microsoft và Google có mà công ti khác không có? Câu trả lời là tri
thức và đó là lí do tại sao tôi tin việc có giáo dục tốt để thu được
tri thức sẽ có ảnh hưởng có ý nghĩa tới nghề nghiệp và sự giầu có của
người ta.
Bạn tôi, một giáo sư về lịch sử đã nói với tôi
rằng mọi nước phải tuân theo các pha của tiến hoá kinh tế – từ nông
nghiệp tới công nghiệp rồi tới tri thức dựa trên cảnh quan lịch sử. Tôi
không đồng ý với ông ấy bởi vì tôi tin rằng chúng ta có thể bỏ qua pha
công nghiệp và nhảy thẳng vào pha tri thức. Logic của tôi là: Tại sao
chúng ta phải đặt cơ sở tiến bộ theo cảnh quan lịch sử? Tại sao chúng
ta không thể phá vỡ trình tự được? Bạn tôi trích dẫn một số
lí
thuyết kinh tế dựa trên bằng chứng ở châu Âu và Mĩ rằng các nước đã
phát triển tiến hoá bằng việc tuân theo trình từ xã hội nông nghiệp, xã
hội công nghiệp rồi đi tới xã hội tri thức. Tôi bảo ông ấy: “Trong
trường hợp đó, ông có cho rằng các nước đang phát triển sẽ không bao
giờ có khả năng bắt kịp và bao giờ cũng phải ở sau các nước đã phát
triển không? Ông không nghĩ những lí thuyết đó bắt rễ sâu trong “Lục
địa thuộc địa” đã lỗi thời rồi sao?” Logic của tôi là: Ngày nay
có những nhân tố có thể làm tăng tốc tiến bộ kinh tế như phát triển
công nghệ bán dẫn, thiết lập công nghiệp tính toán và công nghiệp phần
mềm, và ảnh hưởng của internet. Các nhân tố này đóng góp
cho toàn cầu
hoá và tạo ra xã hội tri thức mà chưa bao giờ xảy ra trước đây trong
lịch sử loài người.
Vì ông ấy là giáo sư lịch sử,
tôi dùng Ấn Độ làm ví dụ. Ấn Độ là xã hội nông nghiệp đã giành được độc
lập năm 1947, trong gần 40 năm Ấn Độ đã không làm được mấy tiến bộ. Nền
kinh tế của nó đã không phát triển mà gần như đi tới bờ sụp đổ bởi vì
tiến bộ quốc nội đã không theo kịp nhịp tiến của phần còn lại trên thế
giới, khi dân số của nó bành trướng nhanh chóng. Bắt đầu từ năm 1991,
chính phủ Ấn Độ bắt đầu đổi mới kinh tế với nhiều hành động thành công
nhưng một trong những đổi mới then chốt là giáo dục, điều đã mang Ấn Độ
từ “Hệ thống giáo dục thuộc địa” sang thành hệ thống giáo dục "hội tụ
vào khoa học và công nghệ" đáng kính. Bằng việc có lực
lượng lao động
có tri thức, Ấn Độ đã tiến hoá nhanh chóng để thiết lập xã hội tri thức
với bằng chứng là ngành công nghiệp phần mềm của nó. Năm 1990 công
nghiệp phần mềm của Ấn Độ đóng góp cho GDP ít hơn 0.1% nhưng ngày nay
nó đã phát triển tới 15% GDP với kinh doanh 80 tỉ đô la và trên một
triệu người làm việc. Ấn Độ không được biết tới là nước công
nghiệp, ít nhất thì cũng chưa được biết tới, nhưng không ai có thể phủ
nhận ngành công nghiệp tri thức của nó, tượng trưng là ngành công
nghiệp phần mềm, cho nên tôi nghĩ có thể bỏ qua một pha để đi từ xã hội
nông nghiệp sang xã hội tri thức.
Bạn tôi dường như chưa
hoàn toàn được thuyết phục và ông ấy nói: 'Lấy Ấn Độ làm ví dụ thì dễ
cho bất kì ai nhưng ông không nghĩ đó là trường hợp đặc biệt sao?’ Tôi
bảo ông ấy rằng đó không phải là trường hợp đặc biệt và bài học ở Ấn Độ
có thể được áp dụng cho các xã hội nông nghiệp khác cũng tốt nếu xã hội
đó bắt đầu với giáo dục. Tôi tin việc thiết lập hệ thống giáo dục chất
lượng cao có thể đem tới thay đổi có ý nghĩa trong nền kinh tế của nước
đang phát triển nhưng điều này cũng làm tăng tầm quan trọng của tri
thức vì phát triển kinh tế cũng có thể tạo ra bất bình đẳng giữa các
nước đang phát triển và nước đã phát triển nếu không có hành động nào
được thực hiện. Không có giáo dục tốt, lỗ hổng sẽ tiếp tục phát triển
rộng hơn và sẽ khó mà sửa chữa được. Vì tri thức và công nghệ đang thay
đổi rất nhanh, khía cạnh then chốt của giáo dục cũng nên được hội tụ
vào việc học cả đời để giữ mọi người được song hành với thay đổi. Cách
thức truyền thống của việc cung cấp giáo dục như một tập các tri thức
cơ bản để làm cho mọi người có đủ tư cách làm việc của họ là lạc hậu
rồi và phải được thay đổi để hội tụ vào việc cho mọi người khả năng
truy nhập vào tri thức đang tăng lên thường xuyên. Giáo dục tiểu học
nên là sự tập trung then chốt bởi vì nó là nền tảng cho bất kì phát
triển nâng cao nào. Nếu học sinh mà không làm chủ được các kĩ năng cơ
bản về đọc, viết và số học, sẽ khó cho họ tham gia vào việc học liên
tục như trong học cả đời. Giáo dục phổ thông cơ sở và trung học, xây
dựng trên mức tiểu học, cũng phải được cải tiến dựa trên một kế hoạch
thấu đáo, nơi học sinh có thể được cho các tuỳ chọn về giáo dục và việc
làm điều tạo khả năng cho họ đóng góp vào tăng trưởng và phát triển
kinh tế.
Vì giáo dục là cấu phần then chốt của sự thịnh
vượng kinh tế, hệ thống giáo dục phải được xem xét trong ngữ cảnh của
những kĩ năng được cần tới trong công nghiệp chứ không phải
là
tri thức cơ sở do những người trong hàn lâm chỉ đạo. Do đó cộng tác
giữa các thể chế công nghiệp và giáo dục là bản chất. Trong xã hội tri
thức, công nghiệp giữ vai trò ngày càng tăng trong việc xác định cái gì
là cần và cái gì không cần dựa trên nhu cầu của họ. Ở các nước đã phát
triển, trường tư có vai trò quan trọng trong hệ thống giáo dục bởi vì
họ ở vị trí tốt hơn các trường công để phát triển huấn luyện theo nhu
cầu tiêng của công nghiệp. Mọi người thường hỏi tại sao phần lớn các
trường hàng đầu ở Mĩ lại là trường tư? Câu trả lời đơn giản có thể là
tất cả họ đều nhận được những tài trợ lớn từ công nghiệp bởi vì chương
trình giáo dục của họ được may đo để đáp ứng nhu cầu của công nghiệp.
Với tài trợ đó, các trường tư có thể thuê những giáo sư giỏi nhất, lập
ra các phòng thí nghiệm nghiên cứu tốt nhất, tạo ra những giáo trình
tốt nhất và tuyển các sinh viên giỏi nhất. Trong loại quan hệ này, công
nghiệp có thể yêu cầu các trường tư thiết lập các chương trình để giúp
mọi người trở thành người học cả đời có động cơ đáp ứng với nhu cầu
tăng lên trong công nghiệp về những kĩ năng và tri thức nào đó. Để hiệu
quả tốt hơn, nhiều trường tư đã dùng công nghệ tính toán và truyền
thông hiện đại tạo khả năng cho sinh viên truy nhập vào tri thức chuyên
dụng một cách nhanh chóng, theo cách thức tự lực. Điều này bao gồm các
cơ hội được cung cấp bởi e-learning trong việc truyền tri thức giữa các
trường và công nghiệp. Trong cộng tác thực tế này, sinh viên có thể
tương tác với các sinh viên khác ở các trường khác, làm việc trên các
dự án chung cho công nghiệp (kiểu dự án Capstone), sinh viên cũng có
thể học ở chỗ làm việc qua một miền rộng các kiểu thực tập, và nghiên
cứu gắn liên cộng tác đại học-công nghiệp. Tuy nhiên, cách tiếp cận này
sẽ không có tác dụng nếu sinh viên không cảm thấy sự khẩn thiết hay
không có nhu cầu tiếp tục học tập như đối lập với việc chỉ nhận bằng
cấp hàn lâm. Tôi nghĩ nhiều việc cần được thực hiện trong việc nâng cao
nhận biết trong sinh viên và xã hội về cách trở thành xã hội tri thức
và có ích lợn của việc học cả đời.
Bạn tôi dường như đồng
ý nên ông ấy hỏi: “Trong trường hợp đó, ông sẽ gợi ý cái gì?” Tôi bảo
ông ấy rằng chúng tôi cần đầu tư nhiều hơn vào giáo dục và đào tạo và
điều chỉnh hệ thống giáo dục để đáp ứng nhu cầu của công nghiệp và làm
việc học cả đời là khía cạnh then chốt của giáo dục để cho mọi người có
thể giúp phần tăng trưởng kinh tế và làm nó thành nền kinh tế tri thức.
|

|