|
|
Kinh tế trí thức
Xem
phần: 1 2 3 4 5 6 7
Phần 2 - Nền kinh tế trí thức
2
Thế giới trong thế kỉ
21 được đặc trưng bởi quan hệ
thành công giữa phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế. Công thức
của tăng trưởng kinh tế được xác định là tổng của các nỗ lực điều chỉnh
theo thay đổi công nghệ của các chính phủ, doanh nghiệp, và người của
họ để khép lại lỗ hổng phân chia giữa các nước đã phát triển và chưa
phát triển. Công thức này đã được vận dụng thành công ở các nước biết
cách biến tri thức
thành yếu tố chính trong nền kinh tế của họ thay vì
các yếu tố truyền thống như lao
động giá thấp, vốn vật lí và tài nguyên
tự nhiên. Để thành công, có một số tiền điều kiện phải
được đáp ứng: Hệ
thống giáo dục tốt, số phần trăm thanh niên có giáo dục đại học, nền
văn hoá nhấn mạnh vào tầm
quan trọng của giáo dục, khuyến khích nhiều
về hiệu năng hiệu quả và sự
phối hợp tốt giữa hệ thống hàn lâm và công
nghiệp. Nếu các nước chưa phát triển muốn có cơ
hội thành công
trong thế giới cạnh tranh cao độ ngày nay, họ có thể đi theo bản lộ
trình của Trung Quốc, Ấn Độ và Hàn Quốc. Ở các nước này, nền kinh tế
tri thức được hình thành bởi giáo dục và đào tạo trong công nghệ, điều
làm sinh thành ra nền kinh tế tri thức (Khoa học và công nghệ – hầu hết
tập trung vào tính toán, công nghệ thông tin và Internet). Đừng lẫn lộn
giữa nền kinh tế tri thức sinh ra công nghệ với việc tiêu thụ và mua
các công nghệ này. Các nước mới nổi lên này đã thịnh vượng và tạo ra
việc làm trong việc xây dựng và bán sản phẩm công nghệ. Nếu bạn chỉ
tiêu thụ những sản phẩm này thì bạn chỉ trong nền kinh tế tiêu thụ,
điều có nghĩa là bạn đang mất tiền chứ không làm ra tiền cho nền kinh
tế. Bằng việc có giáo dục mạnh và áp dụng các tri thức này (Các phương
pháp quản lí mới dùng công nghệ thông tin, phẩm chất con người) vào các
lĩnh vực như nông nghiệp, kinh doanh, và công nghiệp các nước này đã
kinh qua sự tăng trưởng kinh tế có ý nghĩa và theo thời gian tất cả các
lĩnh vực của nền kinh tế của họ sẽ được bão hoà với tri thức và họ sẽ
nổi lên từ các nước đang phát triển thành các nước hoàn toàn phát triển
với các ích lợi được thừa nhận.
Điều nền kinh tế tri
thức cần là công nhân mà hành động của họ phản ánh hiệu năng và nếu họ
không có tri thức riêng, họ có thể tìm thấy nó ngay khi nó được thu
nhận, họ sẽ biết cách dùng nó xác đáng, thích hợp, đạo đức và đúng đắn.
Công nhân không nhất thiết phải được bảo làm gì như theo cách truyền
thống nơi các lao động không có kĩ năng vâng lời cấp quản lí. Ngày nay
công nhân tri thức cần được giáo dục và chỉ đạo để cho họ có thể sản
xuất và đóng góp cho mục đích toàn thể của công ti. Chính bởi lí do này
mà việc tăng số công ti trong các nước đã phát triển bắt đầu làm phát
triển quản lí tri thức
chứ không phải là quản lí con người.
Nhân
tố then chốt trong bản lộ trình đưa tới thịnh vượng kinh tế là nền giáo
dục tốt. Nếu như không đưa vào nền giáo dục tốt, tất cả những thay đổi
này không bao giờ có thể xảy ra được. Tuy nhiên, nếu giáo dục chỉ đơn
giản là quá trình truyền tri thức từ thầy sang trò thì nó chẳng bao giờ
đạt tới mục đích của việc tạo ra nền kinh tế dựa trên tri thức. Ngày
nay giáo dục phải hội tụ vào việc phát triển kĩ năng và khả năng cho
phép mọi người xây dựng tri thức riêng của mình, đối diện với các tình
huống mới và tự mình giải quyết các vấn đề mới. Sai lầm lớn nhất là tin
rằng giáo dục đơn giản là thu nhận tri thức và đây là giải pháp cho mọi
vấn đề. Tri thức không là gì cả nếu chúng ta không biết cách dùng nó
cho một cách xác đáng, thích hợp, đạo đức và đúng đắn. Đừng lẫn lộn tri
thức với năng lực. Tri thức là cái bạn biết còn năng lực là cách bạn áp
dụng nó. Năng lực không thể được đạt tới mà không có tri thức tương ứng
nhưng tri thức có thể tồn tại mà không có năng lực như mọi người vẫn
gọi nó là “tư duy mong ước”. Trong trường hợp này, mọi người nói về tri
thức nhưng không biết cách áp dụng nó hay không muốn dùng nó. Mục đích
của việc học là biết cách lọc và tổ chức thông tin sẵn có và phân biệt
giữa dữ liệu và thông tin, cái tạo nên tri thức.
Thời đại
của nền kinh tế dựa trên tri thức đã mở ra thách thức mới cho hệ thống
giáo dục. Ngày nay xã hội yêu cầu rằng mọi người phải truy nhập vào
giáo dục trong cả đời mình. Đây không chỉ là nền giáo dục truyền thống
nơi trẻ em đến trường từ mẫu giáo tới đại học mà là học tập trong toàn
bộ cuộc đời họ hay học cả đời. Hệ thống giáo dục phải đáp ứng cho các
nhu cầu mới này và tạo ra những hoàn cảnh cho loại giáo dục này xảy ra.
Khi mà công nghệ thay đổi hàng năm thì hệ thống giáo dục phải điều
chỉnh lại bằng không họ sẽ bị tụt lại sau.
Đây là lí do tại sao
giáo dục không nên chỉ là quá trình truyền thụ tri thức mà phải hội tụ
vào khả năng học cách học. Hệ thống giáo dục phải mở rộng khía cạnh
thực hành hơn là đạt tới chuyên môn về tri thức bên trong cấu trúc cứng
ngắc của việc mô hình hoá, lí thuyết hoá bằng “Tri thức sách vở” và
“ghi nhớ thuộc lòng”. Chúng ta phải giáo dục cho thanh niên trong cả
đời họ bởi vì việc chuẩn bị cho cuộc sống cũng là chuẩn bị cho các
nguyên lí của sống tốt như đạo đức, quyền công dân và gìn giữ môi
trường. Tất cả những điều này đều ngụ ý những thay đổi lớn trong cấu
trúc của hệ thống giáo dục mà mãi cho tới giờ mới chỉ tập trung vào một
thời kì nào đó trong đời người ta. Nền
giáo dục mới của thế kỉ 21 nên
được thiết kế lại để đạt tới nhu cầu về việc học cả đời.
Tất
cả những thay đổi đều yêu cầu thái độ và tâm tính mới của các công dân.
Việc làm mạnh nền kinh tế dựa trên tri thức bằng phương tiện giáo dục
và đào tạo tốt hơn là điều bản chất bởi vì không có những yếu tố này,
các nước đang phát triển sẽ tiếp tục tồn tại đơn giản như các nước đó
với nhiều nhà máy trong điều kiện làm việc khổ sở, nơi thu nhập sẽ được
xác định bằng lao động rẻ mạt và mọi người sẽ làm việc chỉ lắp ráp các
sản phẩm công nghệ cao và do vậy chịu sự lạc hậu công nghệ cứ tăng lên
mãi trong mối quan hệ với việc tạo ra và đổi mới các sản phẩm công
nghệ. Tất nhiên, giáo dục bao giờ cũng tới với một cái giá nhưng nếu
bạn nghĩ giáo dục là đắt, thì ráng chịu dốt vậy. Không có hệ thống giáo
dục tốt, không nước nào có thể thịnh vượng được trong thế giới cạnh
tranh cao này bởi vì nếu bạn không cải tiến, nước khác sẽ cải tiến.
|

|