|
|
Kinh tế trí thức
Xem
phần: 1 2 3 4 5 6 7
Phần 1 - Nền kinh tế trí thức
1
Theo định nghĩa, nền
kinh tế tri thức dựa trên việc dùng ý tưởng thay vì những khả năng vật
lí và dựa trên ứng dụng của công nghệ chứ không khai thác lao động rẻ.
Nó là nền kinh tế trong đó tri thức được tạo ra, thu nhận, truyền trao,
và được dùng một cách hiệu quả bởi các cá nhân, công ti và cộng đồng để
thúc đẩy phát triển kinh tế và xã hội. Ngày nay ở các nước
công nghiệp như Mĩ và châu Âu, các ngành công nghiệp dựa trên tri thức
đang bành trướng nhanh chóng ở nơi các công nghệ mới đã được đưa vào,
đòi hỏi các công nhân có kĩ năng cao, đặc biệt là trong công nghệ thông
tin, số công nhân đã tăng lên đáng kể nhưng đồng thời, nhu cầu về công
nhân kĩ năng thấp đã giảm đi và điều này tạo ra nhiều sức ép lên hệ
thống giáo dục hiện thời của các nước công nghiệp để tạo ra con người
có kĩ năng cao.
Cách mạng công nghệ thông tin đã cung cấp những cơ hội mới cho việc
truy nhập dễ dàng vào thông tin từ bất kì đâu. Nó cũng đã tạo ra những
cơ hội mới để phát sinh và truyền thông tin qua internet, máy tính cá
nhân, và điện thoại di động. Mạng tri thức và chia sẻ thông tin đã xúc
tiến canh tân và thích nghi trên toàn thế giới. Thay đổi trong công
nghệ thông tin đã làm cách mạng hoá việc truyền thông tin khi các chất
bán dẫn chạy nhanh hơn, bộ nhớ máy tính mở rộng ra, và giá thành tính
toán hạ xuống. Chi phí truyền dữ liệu đã sụt giảm đột ngột và liên tục
giảm, giải thông tăng lên, và các máy chủ Internet cứ nhân lên mãi
trong mọi nước. Việc dùng điện thoại di động cũng tăng trưởng toàn thế
giới, gia tăng thêm nhịp độ và khả năng cho thay đổi và canh tân. Cách
mạng công nghệ thông tin đã thúc đẩy thương mại và kinh doanh toàn thế
giới nhiều hơn và các nước có khả năng tích hợp nền kinh tế của mình
vào nền kinh tế thế giới đã kinh nghiệm sự tăng trưởng kinh tế có ý
nghĩa như các trường hợp của Ấn Độ, Trung Quốc, Ireland và một số nước
Đông Âu. Nền kinh tế toàn cầu cũng cung cấp cơ hội cho các công ti nhỏ
chiếm ưu thế nhanh chóng nếu họ có thể thích ứng nhanh hơn với thay đổi
so với các công ti lớn hơn, bởi vì trong nền kinh tế dựa trên tri thức
này, công ti lớn hơn không thể vượt qua được công ti nhỏ hơn
nhưng kẻ nhanh hơn sẽ đánh bạn kẻ chậm.
Để tôi nêu cho bạn vài ví dụ: Vào ngày đầu của nền kinh tế dựa trên tri
thức quãng năm 1990, phải mất sáu năm để đi từ quan niệm tới sản xuất
trong ngành công nghiệp ô tô nhưng ngày nay quá trình đó chỉ mất hai
năm. Các công ti như Honda, Toyota đưa ra xe mới cứ hai năm một để cạnh
tranh với các công ti đã có uy tín vững như GM, Ford, Mercedes, và
Renault, các công ti này đưa ra xe mới trong bốn tới năm năm. Đoán xem
ai sẽ là người thắng. Cùng điều đó xảy ra trong kinh doanh điện thoại
di động, vào ngày đầu Motorola chi phối thị trường này bằng việc có
chiếc điện thoại mới cứ sau mỗi hai năm thế rồi Nokia tạo ra điện thoại
mới cứ mỗi một năm và cuối cùng chiếm lĩnh thị trường. Ngày nay
Samsung, LG, Sony và nhiều công ti châu Á có thể sản xuất mười cho tới
hai mươi điện thoại mới cứ mỗi sáu tháng và cạnh tranh về thị trường
điện thoại di động vẫn tiếp tục. Làm sao họ có thể làm mọi thứ nhanh
vậy? Bằng việc có nhiều tổ làm việc theo các pha chờm lấp nhau trong
xây dựng sản phẩm điện thoại và đầu tư nhiều vào giáo dục và đào tạo
hay vào công nhân của họ. Nhiều công ti châu Á như Toyota, Honda, và
Sony đã đầu tư rất lớn vào giáo dục và đào tạo, họ cũng đầu tư phần lớn
vốn của họ vào nghiên cứu và phát triển cho cảnh quan dài hạn nơi mà
nhiều công ti Mĩ và châu Âu lại hội tụ vào lợi nhuận ngắn hạn và không
coi giáo dục có ưu tiên cao.
Nền kinh tế tri thức điển hình dựa trên bốn cấu phần:
1) Chính sách hỗ trợ của chính phủ về kinh tế để cung cấp khuyến khích
cho việc dùng hiệu quả tri thức hiện có và tri thức mới.
2) Công nhân có giáo dục và có kĩ năng để tạo ra, chia sẻ, và dùng tri
thức để đạt ưu thế kinh tế.
3) Kết cấu nền thông tin động tạo điều kiện cho truyền thông, phát tán
và xử lí thông tin có hiệu quả như internet, điện thoại di động v.v.
4) Hệ thống hiệu quả các công ti, trung tâm nghiên cứu đại học và các
cơ quan chính phủ để móc vào tri thức toàn cầu đang tăng trưởng, tiêu
hoá và thích ứng nó cho nhu cầu cục bộ, và tạo ra công nghệ mới.
Việc chuẩn bị cho công nhân cạnh tranh trong nền kinh tế tri thức đòi
hỏi mô hình giáo dục và đào tạo mới, mô hình học cả đời để giữ bắt kịp
với thay đổi trong công nghệ. Trong quá khứ, sinh viên tới trường để
lấy bằng cấp rồi đi làm trong công nghiệp và họ có thể làm việc thời
gian lâu bởi vì điều họ biết vẫn còn có giá trị, nhưng ngày nay cuộc
cách mạng công nghệ thông tin làm thay đổi mọi thứ. Điều có giá trị vài
năm trước có thể không còn có giá trị gì nữa. Chẳng hạn, các ngôn ngữ
lập trình như COBOL hay FORTRAN là hai ngôn ngữ chính trong mọi hệ
thống máy tính trong các năm 1950 tới 1980 nhưng ngày nay hầu hết các
hệ thống máy tính yêu cầu các ngôn ngữ khác như C, C++ hay JAVA. Không
có gì sai với COBOL hay FORTRAN nhưng không có nhu cầu về những kĩ năng
đó thêm nữa bởi vì công nghệ đã thay đổi.
Để vẫn còn hiện hành với thay đổi, mọi người phải học những điều mới và
liên tục học trong cả đời mình. Việc học cả đời bao gồm việc học từ
thời thơ ấu cho tới lúc về hưu; nó bao gồm giáo dục chính thức và không
chính thức: Giáo dục chính thức bao gồm việc đào tạo có cấu trúc được
dạy ở đại học và được hệ thống giáo dục chính thức thừa nhận, dẫn tới
bằng cấp và chứng chỉ. Giáo dục không chính thức bao gồm việc đào tạo
phi cấu trúc, điều có thể xảy ra ở bất kì đâu, kể cả ở nhà, cộng đồng,
hay chỗ làm việc. Nó bao gồm đào tạo tại chỗ, kèm nghề và học nghề hay
học ở nơi làm việc. Để làm cho việc học cả đời có hiệu quả, chúng ta
phải thay đổi tư duy từ việc tới trường để lấy bằng cấp hay chứng chỉ
sang việc dự trường để thu nhận tri thức và để trưởng thành như cá nhân
trong nền kinh tế dựa trên tri thức.
Từ lí thuyết kinh tế, tri thức và kĩ năng tổng thể có thể được tích luỹ
như cái vào trong việc sản xuất ra của cải kinh tế của một nước. Bên
cạnh thước đo về vốn và sản xuất, nền kinh tế dựa trên tri thức cũng sẽ
đo kĩ năng và tri thức, ý tưởng và phát minh. Bởi vì tốc độ thay đổi
trong nền kinh tế tri thức, mọi kĩ năng sẽ khấu hao dần qua thời gian
cho nên để cạnh tranh có hiệu quả trong môi trường thay đổi thường
xuyên này, mọi công nhân đều phải liên tục nâng cấp kĩ năng của mình và
chính phủ phải giữ việc giáo dục liên tục là ưu tiên hàng đầu. Bởi vì
thay đổi trong nền kinh tế tri thức nhanh chóng thế nên các công ti
không thể chỉ dựa vào việc thuê mướn sinh viên mới tốt nghiệp như nguồn
lực chính về các kĩ năng và tri thức mới, mà phải dựa vào các thể chế
đào tạo khác để chuẩn bị cho các công nhân học cả đời. Bởi vì thay đổi
nhanh chóng, các hệ thống giáo dục không còn có thể nhấn mạnh vào lí
thuyết hàn lâm và các kĩ năng chuyên nhiệm vụ như ngôn ngữ lập trình
trong đào tạo công nghệ thông tin mà phải hội tụ vào toàn thể hệ thống
như phát triển các kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề và dạy
cho sinh viên cách học theo kiểu riêng của mình (Học qua làm) và học
với người khác (Học theo tổ).
Tôi tin tưởng mạnh mẽ rằng học cả đời là mấu chốt trong việc tạo khả
năng cho các công nhân cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu. Giáo dục
tốt có thể giúp làm giảm nghèo nàn và đem lại thịnh vượng; nếu các nước
không thúc đẩy học cả đời, lỗ hổng kĩ năng và công nghệ giữa họ và các
nước công nghiệp sẽ tiếp tục phát triển và sẽ rất khó để bắt kịp. Bằng
việc nâng cao khả năng của mọi người để làm việc như thành viên của các
cộng đồng, giáo dục và đào tạo cũng có thể làm tăng sự kết dính xã hội
hay ràng buộc địa phương. Chúng ta phải tránh xa việc gửi công nhân tới
nơi có việc mà phải tạo ra việc nơi mọi người sống, do đó giúp xây dựng
vốn con người, làm tăng phát triển kinh tế địa phương, và kích thích
phát triển toàn bộ. Để kết luận, tôi tin tưởng mạnh mẽ rằng giáo dục và
đào tạo là nền tảng cho phát triển kinh tế và nó còn mấu chốt hơn bao
giờ trong nền kinh tế tri thức và toàn cầu.
|

|