 Jelen János
Nhà ngoại giao Jelen János sinh năm 1955 tại Budapest. Ông đă
học qua các trường: Đại học Quan hệ quốc tế Moxkva 1973-1978.
Trung tâm Giáo dục Budapest 1983-1986, Đại học Princeton (Hoa Kỳ
1994-1995. Từ năm 1978 ông làm việc ở Bộ Ngoại giao Hungary và
đă kinh qua các cương vị công tác sau đây: 1980-1983: tuỳ viên
Đại sứ quán Hungary tại Hà Nội, 1988-1992: thành viên phái đoàn
đại diện Hungary tại Liên Hiệp Quốc ở Viên (Áo); 1992- 1993: phó
thủ trưởng hành chính của LHQ tại tỉnh Xiêm-rệp (Campuchia);
1995-1996: trưởng ban thư kư của Quốc vụ khanh hành chính Bộ
Ngoại giao Hungary, 1996-1998: đại sứ đặc mệnh toàn quyền tại
Việt Nam, kiêm nhiệm ở Lào và Campuchia.
Ông đă tham dự và đọc báo cáo ở Hội thảo quốc tế lần thứ nhất
về Việt Nam học, tổ chức tại Hà Nội từ 15 đến 17-07-1998. Bài
dưới đây được đăng trong Kỷ yếu của Hội thảo (tập IV), Nhà xuất
bản Thế giới 2001.
TỪ NÚI NGỌC LINH ĐẾN HỘI AN QUA MỸ SƠN - ĐA DẠNG VĂN
HOÁ VÀ SINH HỌC VÙNG THUNG LŨNG SÔNG THU BỒN
1. Lời giới thiệu
Tính đa dạng văn hoá và sinh học của khu vực dọc thung
lũng sông Thu Bồn là có một không hai. Tại vùng bờ biển thuộc
miền Trung Việt Nam có hai địa điểm nằm trong danh mục đề nghị
là khu bảo tồn di sản thế giải. Đó là Hội An hay theo tên gọi
của một cảng lịch sử của Việt Nam thời trung cổ là Faifo nằm ở
cửa sông Thu Bồn và những Tháp Chàm nổi tiếng tại Mỹ Sơn ở gần
thượng nguồn sông và gần Trà Kiệu - cố đô của Simaphura. Ḍng
Thu Bồn bắt nguồn từ núi Ngọc Linh (2598m), nằm ở ranh giới hai
tỉnh Kom Tum và Quảng Nam. Tất cả 3 địa điểm này như tôi đề xuất
trước đây, cùng được gắn kết với một hành lang xanh mới có chiều
rộng vài ki lô mét dọc theo sông đều có thể là một bộ phận của
chương tŕnh bảo tồn và phát triển mới (ICDP). Thách thức là to
lớn, và nguy cơ đe doạ tính đa dạng sinh học và văn hoá cũng đă
vượt ra ngoài khuân khổ của lợi ích quốc gia hoặc khu vực. do
vậy, một Uỷ ban điều phối quốc tế về bảo vệ và phát triển di sản
thung lũng sông Thu Bồn có thể sẽ được thành lập.
2. Hội An tại cửa sông Thu Bồn
Trời
khuya sống kia b́nh lặng
Những sắc xuân vừa hé nở
Rồi ngọn sóng bỗng mang trăng đi
Và triều về với
ngàn ánh sao.
Hoa và trăng trên sông mùa xuân
của Yang-ti, Hoàng đế Triều Sui (Tuỳ)
(từ năm 605 đến 617)
Cần phải tŕnh bày đôi nét về tầm quan trọng của Hội An/Faifo.
Trong một thời gian dài từ vài thập kỷ nay, những nguồn lư
liệu của Trung Quốc, Chăm, Việt Nam, Nhật Bản, Bồ Đào Nha, Tây
Ban Nha, Anh, Hà Lan, Ả Rập cùng những tài liệu của Malaysia,
lndonesia đă tập trung chú ư tới vùng cảng biển tấp nập này và
vùng mở rộng của con sông Thu Bồn ở đoạn cuối trước khi nó đổ ra
Biển Đông tại Cửa Đại.
Đại đa số các nhà lữ hành lớn thuộc tất cả các thời kỳ đă dừng
chân tại vùng này trong số đó ta phải nhắc đến Bodhidarma (khoảng
năm 525 sau CN), Marco Polo (1271 - 1295), Chou Taquan
(1296-1297). Họ đă từng vượt biển Đông, dừng chân ở Hội An hoặc
Quy Nhơn hay ở một địa điểm nào đó thuộc vùng bờ biển Champa.
Nơi này đă trở thành một trong số những thành phố buôn bán sầm
uất nhất ở Việt Nam và Ở khu vực, khi Trung Hoa bế quan toả cảng
cấm thông thương với nước ngoài vào triều nhà Minh và cho đến
tận cuối thế kỷ XVI vẫn tiếp tục cấm buôn bán với Nhật Bản. “Để
loại bỏ những trở ngại này, các mạc phủ (shogunates) Ở Nhật Bản,
trước tiên là Toyotomi rồi sau đến Tokugawa vào năm 1543 đă bắt
đàu cấp những giấy phép đặc biệt cho các thương tàu Shuinsen
được tới Đông Nam Á để t́m kiếm những sản phẩm của Trung Hoa.
Chính sách này đă được tiếp tục thực hiện cho tới năm 1636 và đă
tạo điều kiện thuận lợi cho quan hệ buôn bán giữa Nhật Bản và
Việt Nam thông qua thương cảng Hội An”.
Các thày tu người Bồ Đào Nha cũng đă vào Việl Nam qua Hội An. Có
thể kể đến Christoforo Borri (vào Việt Nam năm 1618) và cả nhà
truyền đạo người Pháp Alexandre de Rhodes - người được coi là
cha đẻ của chữ quốc ngữ.
Tuy nhiên Nhật triều Tokugawa, sau khi nhận ra mối đe doạ của
Thiên Chúa giáo và vai tṛ của nó đối với cả thương mại lẫn
chính trị, đă quyết định đóng cửa đối với tất cả các hoạt động
ngoại thương vào năm 1636. Việc này đă làm chấm dứt mối quan hệ
đặc biệt giữa Nhật Bản và Việt Nam. Công ty Đông ấn của Hà Lan
vào lúc này đă mở cơ quan đại diện tại Hội An và duy tŕ hoạt
động tích cực của nó cho đến tận giữa thế kỷ XVIII. Trong thời
gian diễn ra cuộc khởi nghĩa Tây Sơn vào cuối thế kỷ XVIII, hội
An đă bị phá huỷ hoàn toàn. Sau đó vào năm 1916, một trận băo
lớn đă phá huỷ những công tŕnh tái thiết ở Hội An cùng con
đường sắt duy nhất nối Hội An với Đà Nẵng được xây dựng trong
thời Pháp thuộc.
Thiên nhiên và công nghệ tàu biểu hiện đại đă khiến Hội An mất
dần vai tṛ là một thương cảng, một trung tâm buôn bán sầm uất.
Khúc sông Thu Bồn nối Hội An với biển đă bị bồi lấp và nông tới
mức những thương tàu lớn, hiện đại không thể đi lại được.
Song, tầm quan trọng của Hội An với tư cách là một trung tâm du
lịch th́ lại không ngừng tăng nhanh.
Chính phủ Việt Nam đă xác định và công nhận những tác động của
môi trường như: ảnh hưởng của hai mùa khí hậu (khô, nắng nóng,
mưa nhiều và độ ẩm cao) cộng với sự thay đổi ḍng chảy của sông
đă tạo nên sự bồi lắng, sạt lở làm ngăn cản giao thông đường
thuỷ và làm thay đổi địa h́nh, địa chất hàng năm. Thêm nữa là
nạn mốt mọi giun dế, dơi, rồi nấm mốc, rêu phong cũng đẩy nhanh
quá tŕnh xuống cấp của các công tŕnh kiến trúc bằng gỗ. Tiếp
đến là các tầng địa chất kết tụ lại với nhau (đất đai ở các điểm
di tích lịch sử có nguồn gốc từ đất bồi ven sông). Tất cả những
tác động kể trên đă gây ảnh hưởng lớn tới nền móng của
các di tích, đặc biệt là vào mùa mưa”.
3. Amaravati hay là Mỹ Sơn
?
“Ngay từ buổi đầu, những mưu đồ bành trướng lên phương Bắc đă
vấp phải sự Nam tiến của người Việt Nam. Các cuộc đụng độ đă
diễn ra giữa đại diện của hai nền văn minh đối nghịch: một bên
là người Chăm chịu ảnh hưởng của Ấn Độ và một bên là người Việt
chịu ảnh hưởng của Trung Hoa. Các cuộc đụng độ này diễn ra từ
Hoành Sơn đến đèo Hải Vân; và cuối cùng người Chăm phải rút quân
hoàn toàn vào thế kỷ XIV”.
(Coedes G., Những quốc gia chịu ảnh hưởng của Ấn Độ ở Đông
Nam á, 1968)
Không nghi ngờ ǵ nữa, Mỹ Sơn (hay Amaravati) chính là một địa
điểm Champa nổi tiếng và đặc thù nhất của Việt Nam, có lẽ đó đă
được người Chăm sùng kính trong suốt một thời kỳ lâu dài từ đầu
thế kỷ V đến cuối thế kỷ XIV. Simhapura (Trà Kiệu) là thủ đô
chính trị c̣n Amaravuti là trung tâm tôn giáo của Vương quốc
Champa. Cả hai nơi này đều năm gần sông Thu Bồn, đều là nơi diễn
ra những hoạt động chính trị và tôn giáo quan trọng nhất của
người Chăm và cũng là nơi chôn cất các vua chúa Chăm.
Xét về giá trị du lịch Mỹ Sơn được xếp ngang tầm với những địa
danh lớn thuộc các nền văn minh chịu ảnh hưởng của Ấn Độ ở Đông
Nam Á như Ăngkor (Campuchia), Ba gan (Myamna), Asuthaya (Thái
Lan) và Borobudur (đảo Gia-va).
Tầm quan trọng của thung lũng sông Thu Bồn - nơi khám phá ra 2
địa danh nổi tiếng nói trên cùng nhiều địa danh Chăm khác - c̣n
được đề cao hơn nữa v́ ở đó người ta đă t́m thấy những di chỉ từ
cuối nền văn hoá Sa Huỳnh vào thời kỳ đồ sắt. Nền văn hoá này đă
ngự trị ở dây từ thiên niên kỷ thứ nhất trước CN, vào cuối thời
tiền sử. Mối quan hệ của nền văn hoá tiền sử này với sự ra đời
của nền văn minh Champa nở rộ từ đầu thế kỷ thứ V đến giữa thế
kỷ VIII sau CN đă được nghiên cứu khá kỹ lưỡng. Tuy nhiên, tiêu
chí của những công tŕnh nghiên cứu do c̣n tản mạn và chỉ dừng
lại ở “sự phân tích những di chỉ khai quật được” như lời Tiến sĩ
I.Glover trong một bài báo về chủ đề này “phải vất vả lắm chúng
tôi mới t́m ra được mối liên hệ giữa sự nối tiếp của địa tầng và
đồ gốm khai quật được với các công tŕnh kiến trúc và điêu khắc
do Claeys phát hiện ra vào những năm 1920”. Kết qủa của
những công tŕnh mới đây nhất đă đem lại cách tiếp cận mới mẻ,
toàn diện vàiđầy hy vọng. Công việc nhận diện địa - thuỷ
h́nh thái học bằng các công vụ viễn thám hiện đại cũng như những
biến đổi song hành của trệ thống Cửa Đại cũng đă được các nhà
khoa học Việt Nam nghiên cứu kỹ lưỡng.
Những phương pháp nghiên cứu mang tính cách mạng về “khảo cổ học
theo không gian” đă được Tiến sĩ Elizabeth Moor chứng minh cụ
thể. Tiến sĩ đă sử dụng không chỉ những bức ảnh lịch sử truyền
thống, ảnh chụp từ trên không, ảnh vệ tinh h́nh ảnh số ở
Angkor mà c̣n dùng đến cả các ảnh chụp bằng kỹ thuật ra đa hiện
đại để nghiên cứu địa h́nh địa vật ở vùng b́nh nguyên Angkor nằm
giữa dăy núi Khiêu và hồ Toule Sap. Theo quan điểm của bài báo
này th́ các phương pháp ghi h́nh viễn thám không chiếu xuyên là
rất quan trọng bởi v́ thung lũng sông Thu Bồn có lẽ giống hoặc
gần với ỗâu địa h́nh lịch sử và tiền sử của nó hơn là ở vùng
Angkor.
Cách tiếp cận như vậy đă khám phá ra những mẫu thực vật, các đặc
tính của đất khí ẩm và kiến tạo mà các nhà khoa học Hungary đặt
tên là “dấu vân tay của loài người”. Điều đó cho ta một nhận
thức hoàn toàn mới mẻ về thực vật mà có thể về mặt di truyền vẫn
c̣n lưu giữ những mẫu tương tự, song do chiều dài của lịch sử,
dưới tác động thường xuyên của môi trường và con người, chúng
“hiện lên” trên h́nh ảnh khía như một loài thực vật khác biệt
với những đặc tính cách điện khác nhau giống như các loài ở các
vùng lân cận hệ thực vật này trong một trường hợp nào đó định
đặt tên là “rừng thánh thất”. Trải qua một thời kỳ dài có sự
khai thác của con người th́ chắc chắn rằng hiện tượng này đă
được nhận thấy lại thung lũng sông Thu Bồn, đặc biệt ở vùng Mỹ
Sơn và Simhapura thuộc lưu vực của con sông này.
Ở khu vực Mỹ Sơn, những hậu quả do chiến tranh gây ra là mối
quan tâm lớn nhất của các nhà khoa học. Đánh giá khoa học mới
nhất về những tác động của cuộc chiến tranh ViệtNam đối với môi
trường theo phương pháp sử dụng h́nh ảnh ra đa đưa ra luận chứng
bổ sung cho các hoạt động nghiên cứu phối hợp trong tương lai.
Các công tŕnh nghiên cứu cho thấy hầu hết những biến đổi về địa
h́nh môi trường kiến trúc và những biến đổi khác do con người
gây ra đă ảnh hưởng sâu sắc đến giá trị của thung lũng này đối
với nền văn minh vốn ngự trị tại đó. Song mối quan hệ
phức tạp giữa con người và quá tŕnh biến đổi của thiên nhiên
vẫn chưa trở thành trọng tâm của các công tŕnh nghiên cứu. Dô
vậy, nhất thiết phải tiến hành một công tŕnh nghiên cứu đa
ngành đối với thung lũng bao gồm công tŕnh nghiên cứu về địa
chất cổ đại (tức là tập trung vào những biến đổi trong ṿng 200
ngàn năm trở lại đây); về thuỷ học cổ đại (tức là liên hệ đến
những yếu tố nhân tạo trong của bất kỳ thời gian nào): về dân
tộc học, về cổ sinh vật học (tức là nghiên cứu những biến đổi
sinh học với những mẫu h́nh lịch sử về hoạt động của loài người)
cùng với việc đưa ra tất cả những dữ liệu, những bằng chứng
trên các lĩnh vực như lịch sử, khảo cổ và nghệ thuật nhằm
xác định những thay đổi “trực tiếp hoặc đích thực liên quan tới
truyền thống sinh hoạt, tín ngưỡng, văn học nghệ thuật mang ư
nghĩa phổ biến”
4. Tính đa dạng sinh học
của vùng
“C̣n em thương anh bên Tây mùa đông
Nước khe cạn bướm bay lèn đá
Biết rằng anh say miền đất lạ”
(Đông Trường Sơn-Tây Trường Sơn,
Phạm Tiến Duật, 1969).
Cùng Với một số huyện mua Tây của tỉnh Qu-ảng Nam như Hiền Giang.
Trà Mỹ và Phước Sơn, khu vực này được đánh giá là vùng có tính
đa dạng sinh học cao nhất của Việt Nam. Năm 1986 khu Bảo tồn
thiên nhiên Ngọc Linh được xác nhận “là nơi sinh sống quan trọng
nhất của các loài động thực vật và là nơi có ư nghĩa đối với
việc duy tŕ lâu bền tính đa dạng sinh học của các loài động
thực vật quư hiếm đang bị đe dọa tuyệt chủng xét cả về góc độ
khoa học lẫn bảo tồn”. Có thể lấy ví dụ một số loài như: Nhân
sâm Ngọc Linh (Panax Việt nam), Sao la Nghệ Tĩnh
(Pselldory Nghệ Tĩnh) và Mang Trường Sơn (Canilmuntiacus
Trường Sơn).
Về thực vật, trong số khoảng 2000 loài cây có 542 loài được xếp
vào loại có giá trị cao nhất và có tới 19 loài đang có nguy cơ
bị đe doạ. (Danh sách liệt kê chi tiết các loài quư hiếm và các
loài đang bị đe doạ được nêuở phần Phụ lục). Cục Bảo vệ Rừng của
Việt Nam đă có sáng kiến lập dự án bảo vệ và duy tŕ sự sống của
loài hổ Panthera Tigris – Feiiolae. Từ những năm 1980,
những cố gắng trên mọi phương diện nhằm bảo vệ vùng này đă được
xúc tiến, đặc biệt là ở khu vực sườn núi phía Kon Tum. Từ năm
1994 sau một số cuộc thăm hiểm khoa học, ngày càng có nhiều
người công nhận tính đa dạng sinh học ở vùng rừng núi Quảng Nam.
Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn đă đề xuất dự án mở rộng
Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh bao gồm cả một số vùng thuộc
hai tỉnh Quảng Nam và Kon Tum. Quỹ bảo vệ động vật hoang dă thế
giới (WWF) và Cục bảo vệ Rừng (FPD) cùng phối hợp đề xuất sáng
kiến thiết lập một khu Bảo tồn Quốc gia sông Thanh ở vùng
Dakpring. Khu Bảo tồn mới này được bổ sung thêm 117.670
ha vào diện tích khoảng 20.000 ha ban đầu. Một kế hoạch quản lư
mới đang được soạn thảo. Dự án này đề nghị cung cấp cơ sở vật
chất cho các chương tŕnh hành động cho tới thời điểm mà kế
hoạch quản lư được hoàn tất.
ICDF (chương tŕnh kết hợp giữa phát triển và bảo tồn đề ra mục
tiêu hành động là xác định ranh giới giữa các khu cần
bảo tồn nối với một “hành lang xanh” để đáp ứng
yêu cầu về không gian của dân cư của các loài động thực vật và
của quá tŕnh phát triển; và có thể đáp ứng tiêu chuẩn của việc
xét duyệt công nhận là di sản thế giới. Những ranh giới
này nhất thiết phải bao gồm hoặc kề sát những vùng có giá trị
nổi tiếng nhằm bảo vệ những giá trị của di sản khỏi các tác động
xâm hại trực tiếp do con người gây ra hoặc những tác động của
việc sử dụng tài nguyên một cách bừa băi. Và cũng có thể, những
ranh giới này trừng khớp với khu vực đă được ấn định
phải bảo tồn như vườn quốc gia hoặc khu duy tŕ môi trường sinh
học.
Tuy nhiên, một mục tiêu tinh tế hơn của chương tŕnh là phải xác
định một số vùng quản lư bao gồm không chỉ những khu vực đáp ứng
được những tiêu chuẩn nêu trong “Những chỉ dẫn hoạt động của
Công ước Di sản thế giới” mà cả những “khu vực khác” có ư nghĩa
thực tế đối với công tác quản lư nhằm đảm bảo tính chỉnh thể của
các di sản thế giới. Tính chỉnh thể trong trường hợp này không
chỉ có nghĩa thừa nhận mà c̣n có nghĩa quan tâm tới những lợi
ích của người dân sống trong khu vực được công nhận là di sản
thế giới. Việc quan tâm tới lợi ích của quốc gia và khu vực
trong việc sử dụng tài nguyên phải được coi là một chiến lược
quốc gia.
Đă từ lâu các chuyên gia địa phương, trong nước cũng như quốc tế
đă thừa nhận sức ép về mặt kinh tế- xă hội ngày càng tăng. Kế
hoạch hành động Đa dạng sinh học (MOSTE, 1995) đă đề cập tới vấn
đề này xét theo quan điểm cụ thể của Việt Nam như sau:
“Việt Nam đă xác định phải đối mặt trước những vấn đề lớn của
tài nguyên môi trường và đa dạng sinh học đặt ra trong Chiến
lược bảo tồn quốc gia (NCS) - một kế hoạch quốc gia v́ sự phát
triển của môi trường và kế hoạch hành động đối với rừng nhiệt
đới. Vậy có điểm ǵ khác khi nói về Kế hoạch hành động Đa dạng
sinh học (BAP) này? Kế hoạch này chứng tỏ một sự tiếp cận toàn
diện và hội nhập. Một số nét đặc trưng cho cách tiếp cận của kế
hoạch là: trước hết, BAP dựa trên cơ sở tham gia của nhân dân
địa phương để bảo vệ thiên nhiên. Trên thực tế t́nh trạng mật độ
dân số cao như ở Việt Nam có nghĩa là hầu như tất cả các nguồn
tài nguyên thiên nhiên đều bị khai thác. Khó có thể thành lập
những khu bảo tồn rộng lớn tránh được sự xâm phạm của con người.
Do vậy không nên coi những khu bảo tồn thiên nhiên như là những
ốc đảo di sản thiên nhiên được bảo vệ, canh gác khỏi bị tác động
xâm hại của con người.
Thay v́ những khu vực được bảo tồn là những trung tâm nằm trong
các vùng phong cảnh có tính đa dạng sinh học rộng lớn hơn. Tại
đây các khu nhỏ, được bảo vệ là một bộ phận của vùng đất được sử
dụng với các khu đệm, hành lang. đồn điền, khu tái sinh và đất
nông nghiệp. Tất cả được quản lư theo các biện pháp hỗ trợ nhằm
bảo vệ tính đa dạng của nguồn tài nguyên sinh học.
Một sự phát triển hoàn toàn cân bằng của khu vực này không thể
kéo dài quá lâu mà không tính đến các nguy cơ huỷ hoại tính đa
dạng sinh học và văn hoá gây ra bởi các hoạt động dưới sự dẫn
dắt của ác lợi ích kinh tế hay tài chính.
5. Những kinh nghiệm quốc tế thích hợp
Những kinh nghiệm mà tác giả thu lượm được trong quá tŕnh tham
gia kể từ ngày khởi đầu cho đến khi tham gia vào các hoạt động
của SIDA/UNESCO tài trợ cho Kế hoạch Quản lư khu vực và môi
trường (ZEMP) và trong quá tŕnh thành lập Uỷ ban Điều phối Quốc
tế bảo vệ và phát triển khu vực lịch sử Angkor (ICC) đă khẳng
định rằng một dự án như vậy cần có sự cộng tác của một số lượng
lớn các chuyên gia về nhiều lĩnh vực, mà Uỷ ban là người tạo ra
sự gắn kết và đảm bảo tính cân đối giữa các nghiên cứu quốc gia
và quốc tế giữa các lợi ích của bảo tồn và phát triển. Tính
thích hợp của các hoạt động trên đây sẽ được chứng minh khi tôi
tŕnh bày vấn đề.
a. Môi trường kỹ
thuật của chương tŕnh
Vai tṛ duy nhất và sống c̣n của h́nh ảnh Viễn thám bắt nhậy,
h́nh ảnh từ không trung và vệ tinh cũng như GIS đặc biệt do
RAF/UNESCO và JAS/JAICA cũng như EFEO phát triển tạo ra cơ sở
vững chắc đối với sáng kiến sử dụng chúng một cách tập trung vào
những công tŕnh đă được đề nghị. Do vậy một nỗ lực điều phối
chung để tổ chức một chuyến bay trên thung lũng Thu Bồn trong
khuôn khổ chương tŕnh nghiên cứu NASA/TPL PACRIM II sẽ hao gồm
cả việc triển khai AIRSAR và những thiết bị TOPSAI và/hoặc những
thiết bị viễn thám công nghệ cao khác. Bằng việc này có thể thực
sự thu hút sự quan tâm của chính phủ Việt Nam và có thể tiến
hành một cuộc chuyển giao kiến thức rất chuyên sâu tại Việt Nam.
Kiến thức nền tảng về kỹ thuật ở Việt Nam là tuyệt vời, chẳng
hạn như tại Trung tâm liên bộ về ứng dụng Không gian (CIAS).
Trung tâm Viễn thám và Địa toán (VTGEO) hay Viện Kế hoạch và
Kiểm lâm (FIPI). Một công tŕnh đầy hứa hẹên do sáng kiến của
Italia nhằm phát triển hệ thống thông tin địa lư về khu Di sản
Thế giới Mỹ Sơn được đề xuất với sự hợp tác với Bộ Văn hoá và
Thông tin Việt Nam có thể là một công tŕnh hạt giống tuyệt vời
đối với những hoạt động loại này nếu được phối hợp với UNESCO/WHC
và cả với các viện nghiên cứu của Việt Nam như vừa nêu đến.
Xét theo quan điểm hợp tác quốc tế th́ đề nghị Âu - Á của Pháp
và Việt Nam dă được họi nghị Thượng đỉnh ASEM ở Lon don thông
qua vào tháng 4 năm 1997 đă tạo ra một khuôn khổ tuyệt vời của
sáng kiến này. Các nước bảo trợ đă nhấn mạnh tới phát triển nông
thôn, bảo vệ môi trường và giảm đói nghèo trong những chương
tŕnh song phương và đa phương như dự án cải thiện môi trường
toàn cầu hay những dự án mới lập khác của Ngân hàng Thế giới WB
hoặc Ngân hàng Phát triển cháu Á ADB cũng có thể đóng góp theo
h́nh thức điều phối thích hợp vào kết quả của việc triển khai dự
án.
b. Môi trường pháp lư của chương tŕnh
Quan điểm tŕnh bầy trên đây đă được nêu trong công việc Bảo vệ
Di sản thiên nhiên và văn hoá thế giới (1972) mà nó thường được
nói đến với cái tên là Công ước Di sản thế giới. Thực tế là vào
thời điểm thông qua công ước, nét tiêu biểu nhất của Công ước là
gắn vào cùng một văn kiện tất cả những quan điểm về bảo tồn
thiên nhiên và giữ ǵn các di tích văn hoá. Đằng sau việc này là
sự thừa nhận rằng thiên nhiên và văn hoá bổ sung nhau và rằng
tính đồng nhất về văn hoá liên quan chặt chẽ với môi trường
thiên nhiên mà trong đó nó phát triển.
Nhận thức về mối liên hệ này đang thay đổi như đă tŕnh bày ở
trên, và những kinh nghiệm to lớn về cách khắc phục do Trung tâm
Di sản thế giới có nhiệm vụ áp dụng Công ước tích luỹ được đă
được phản ánh đầy đủ trong Những chỉ dẫn hoạt động đối với việc
áp dụng Công ước Di sản thế giới hoặc gọi một cách ngắn gọn là
Những chỉ dẫn hoạt động. NÓ cho ta một sự giải thích chi
tiết hơn nhiều về tiêu chuẩn của một địa điểm văn hoá, thiên
nhiên hay một số điểm “hỗn hợp” có thể được đưa vào bản Danh mục
Di sản thế giới.
Từ một điểm “hỗn hợp” tức là cả văn hoá và thiên nhiên đều cần
được bảo vệ do tầm quan trọng quốc tế của nó th́ một buớc nhỏ
tiến tới “những hệ thống” di sản thế giới phải được đề xướng khi
mối quan hệ tổng hợp và phát triển khu vực giữa những yếu tố
liên kết nội tại mật thiết đó tạo nên sức ép không thể tránh
khỏi đối với sự can thiệp trở lại của con người vào môi trường.
Việc can thiệp thận trọng có sự giám sát quốc gia và quốc tế cần
phải buộc tất cả các bên cùng tham gia và quan tâm t́m kiếm
những giải pháp có thể chấp nhận được. Phải tránh việc đào sâu
hố ngăn cách trong các trường hợp không ngang sức về quyền lực
chính trị và tài chính theo kiểu kẻ thù như David và Goliath.
Thắng lợi của bất kỳ phía nào cũng không giải quyết được vấn đề
mà chỉ làm chậm lại các giải pháp của họ.
Một hệ thống giám sát thích hợp đối với việc bảo vệ và phát
triển di sản văn hoá, thiên nhiên và khảo cổ của một vùng có thể
trở thành một h́nh mẫu mới để kết hợp chặt chẽ vào một hệ thống
giám sát toàn cầu trong tương lai. Một h́nh mẫu trước đây và
những kinh nghiệm có liên quan về Qũy Angkor Hoàng gia và Kế
hoạch Quản lư môi trường và Khu thực hành của UNESCO đối với di
tích lịch sử Angkor đă cho ta những chỉ dẫn đầy đủ.
6. Kết luận
Một chiến lược mới cần nhấn mạnh hơn không những vào tính đa
dạng thiên nhiên, văn hoá đang hiện hành mà vào cả chính quá
tŕnh đa dạng hoá, được giải thích như một “mục tiêu mềm” liên
tục chứ không phải là sự kết thúc hay một quyết định tăng cường.
Hiểu biết về khu vực di sản cần được tập họp và phân loại sắp
xếp thông qua một số biện pháp truyền thống hoặc không truyền
thống nhằm cung cấp một khối lượng đáng kể kiến thức cho các nhà
làm quyết định. Việc công nhận, bảo vệ và phát triển trong môi
trường của họ cần được công khai để nhân dân địa phương, những
người ra quyết định ở khu vực nghiên cứu kỹ lưỡng và được các
chuyên gia quốc tế thảo luận. Ai là người sẽ chịu trách nhiệm
thực hiện hành động th́ phải được cung cấp những thông tin mới
nhất về hậu quả của việc can thiệp hay không can thiệp của họ
trên cơ sở liên tục, độc lập và không thiên vị. Quan hệ đối tác
và quyền lợi được chia sẻ, nếu điều này được cùng nhau công nhận
th́ sự tham gia chung có thể trở thành một khuôn khổ để khuyến
khích sự đa dạng hoá những nguồn tài nguyên văn hoá và thiên
nhiên hiện đang tồn tại.
* *
Cuối cùng tôi xin bày bỏ sự cảm ơn chân thành nhất tới Tên sĩ
Phạm Văn Cự Ở VTGEO, ông Đặng Văn Bài ở Bộ Văn hoá và Thông tin
và Tiến sĩ Cao Văn Sung Ở IEBR mà nếu không có sự giúp đỡ của họ
th́ tài liệu này không thể hoàn thành được. |